lỗi
  • DB function failed with error number 145
    Table './nguyenhuu_dtdb/ealpu_vvisitcounter' is marked as crashed and should be repaired SQL=CREATE TABLE IF NOT EXISTS ealpu_vvisitcounter ( id int(11) unsigned NOT NULL AUTO_INCREMENT, tm int NOT NULL, ip varchar(16) NOT NULL DEFAULT '0.0.0.0', PRIMARY KEY (`id`) ) ENGINE=MyISAM AUTO_INCREMENT=1;
  • DB function failed with error number 145
    Table './nguyenhuu_dtdb/ealpu_vvisitcounter' is marked as crashed and should be repaired SQL=INSERT INTO ealpu_vvisitcounter (id, tm, ip) VALUES ('', '1513148705', '54.82.81.154')
  • DB function failed with error number 145
    Table './nguyenhuu_dtdb/ealpu_vvisitcounter' is marked as crashed and should be repaired SQL=SELECT MAX(id) FROM ealpu_vvisitcounter
  • DB function failed with error number 145
    Table './nguyenhuu_dtdb/ealpu_vvisitcounter' is marked as crashed and should be repaired SQL=SELECT COUNT(*) FROM ealpu_vvisitcounter WHERE tm >= '1513123200'
  • DB function failed with error number 145
    Table './nguyenhuu_dtdb/ealpu_vvisitcounter' is marked as crashed and should be repaired SQL=SELECT COUNT(*) FROM ealpu_vvisitcounter WHERE tm >= '1513036800' AND tm < '1513123200'
  • DB function failed with error number 145
    Table './nguyenhuu_dtdb/ealpu_vvisitcounter' is marked as crashed and should be repaired SQL=SELECT COUNT(*) FROM ealpu_vvisitcounter WHERE tm >= '1512864000' AND tm < '1513123200'
  • DB function failed with error number 145
    Table './nguyenhuu_dtdb/ealpu_vvisitcounter' is marked as crashed and should be repaired SQL=SELECT COUNT(*) FROM ealpu_vvisitcounter WHERE tm >= '1512259200' AND tm < '1512864000'
  • DB function failed with error number 145
    Table './nguyenhuu_dtdb/ealpu_vvisitcounter' is marked as crashed and should be repaired SQL=SELECT COUNT(*) FROM ealpu_vvisitcounter WHERE tm >= '1512086400' AND tm < '1513123200'
  • DB function failed with error number 145
    Table './nguyenhuu_dtdb/ealpu_vvisitcounter' is marked as crashed and should be repaired SQL=SELECT COUNT(*) FROM ealpu_vvisitcounter WHERE tm >= '1509494400' AND tm < '1512086400'
  • DB function failed with error number 145
    Table './nguyenhuu_dtdb/ealpu_vvisitcounter' is marked as crashed and should be repaired SQL=SELECT COUNT(*) FROM ealpu_vvisitcounter WHERE tm >= '1513147505'

Mảnh đất quê hương (1)

Thứ sáu, 09 Tháng 11 2012 16:58

Đôi điều về Đất Mẹ

Huyện Quỳnh Phụ xưa và nay 

Huyện Quỳnh Phụ, là huyện có vị trí chiến lược của tỉnh Thái Bình với 2 cửa ngõ quan trọng thông thương với các tỉnh bạn. Phía Tây bắc, dọc theo tỉnh lộ 217, qua bến Hiệp là tỉnh Hải Dương.

 Phía Đông bắc, theo quốc lộ 10, qua cầu Nghìn là huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Phải chăng vì vị thế quan trọng đó mà Quỳnh Phụ là đất có cư dân sinh sống lâu đời nhất và thị trấn huyện lỵ Quỳnh Côi được thành lập và công nhận là thị trấn sớm nhất của tỉnh Thái Bình.

 

 Ảnh bên: An Hiệp & Sơn Đồng (Quỳnh Giao) – quê hương PTT Hoàng Trung Hải

 Trước năm 1894 huyện lỵ đóng tại làng An Phú (làng Đó), xã Quỳnh Côi (nay là xã Quỳnh Hải – theo Địa chí Quỳnh Côi của Ngô Vi Liễn, in năm 1933). Đông giáp huyện Thái Thụy và huyện Vĩnh Bảo tỉnh Hải Phòng. Tây giáp huyện Hưng Hà. Nam giáo huyện Đông Hưng. Bắc giáp Hải Dương và Hải Phòng. Diện tích: 205,6km2, Dân số: 239.800 người (2004), Mật độ dân số: 1.166 người/km2, gồm thị trấn Quỳnh Côi và 37 xã. Huyện Quỳnh Phụ nay được hợp nhất từ hai huyện Quỳnh Côi và Phụ Dực năm 1969. Đầu thời Trần đất này thuộc huyện A Côi và Đa Dực, thuộc lộ An Tiêm. Trước đó, từ khoảng 500 năm trước công nguyên, căn cứ theo những di vật tìm được, các nhà khoa học khẳng định con người đã tụ cư đông đúc ở đây và một vùng thuộc huyện Hưng Hà ngày nay.

 Lịch sử hơn 200 năm đã khắc ghi nơi đây là mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, truyền thống lao động sản xuất và truyền thống cách mạng. Thời phong kiến mảnh đất nhỏ bé này đã có 23 người con thi đỗ tiến sỹ. Nghệ thuật Chèo và múa Bát Dật, kéo chữ cổ truyền còn được lưư giữ đến ngày nay.

 

 Tại vùng Quỳnh Côi có truyền thuyết về long mạch liên quan tới mẹ con đàn rồng đất vượt sông Luộc. Đảo Cò (xã Chi Lăng Nam, Chi Lăng Bắc, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương) – vốn là khúc uốn cũ của sông Cửu An sau trận lũ lớn, nay là nơi cò, vạc trú ngụ, thuộc vùng Mè, Trại (xã Chi Lăng Nam, Chi Lăng Bắc, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương) là khởi nguồn long mạch cả vùng Thanh Miện, Quỳnh Côi. Rồng đất mẹ và rồng con bị thánh Tả Ao đuổi, đã chạy về bến Trại.

 Sau khi vượt sông Luộc, chạy dọc theo tỉnh lộ 217 nổi lên ở đống con Quạ (ngã tư Bạt, thị trấn Quỳnh Côi, trước đây chánh tổng Hữu giàu bậc nhất trong vùng đặt mồ mả gia tiên tại đó, sau bị san phẳng làm sân vận động), thì chia hai: một rồng con theo tỉnh lộ 216 về khu miếu bà Vú Sữa, chùa Thanh Hương, đình làng Lê Xá, xã Quỳnh Hải. Trước đây, miếu bà Vú Sữa nằm trên đầu rồng, vốn nổi tiếng linh thiêng, có bia hạ mã, ai sinh con, mất sữa đến cầu khấn là ứng nghiệm, sau bị phá hoàn toàn, hiện là khu trường học. Chùa Thanh Hương bị triệt hạ, đình bị phá tiền đường, mới được phục hồi lại một phần. Theo dân trong vùng, thì khu đất này đã bị người Tàu yểm, cắt long mạch. Cách đây chừng 40 năm, khi đào đất, dựng trường đã phát hiện ra một con ngựa sắt khá lớn bị han gỉ. Rồng mẹ về thôn Nam Đài (làng Rồng), xã Quỳnh Bảo, nổi lên ở hàm rồng (miễu Thóc) và đống đầu rồng (miễu Rồng), chầu sang thế đất Ly, Qui, Phượng ở làng Hải Triều (Hới), Trình Nguyên (Chiềng) đều thuộc xã Quỳnh Nguyên. Trước đây, dinh cơ của tiến sĩ Đoàn Nguyễn Thục rộng vài mẫu, có ao 7 sào nối thông với sông Xích Bích, Kênh Hoàng nối với sông Luộc, nay không còn dấu vết, chỉ còn ngôi mộ nhỏ giữa đồng và một am nhỏ do người dân mới lập. Cách đây 1 – 2 năm, bảo tàng Văn học Việt Nam về mua lại chiếc án gỗ - tương truyền của Nguyễn Du. Từ đây sẽ nhìn thấy đầu rồng (miễu Rồng) và hàm rồng (miễu Thóc), chùa Rồng – ngôi chùa nhỏ nhưng có kiến trúc độc đáo, không phải hình chữ Đinh hay chữ Công, chữ Tam như nhiều ngôi chùa miền Bắc mà như một chuôi vồ và có một số bia đá cổ.

 Ảnh trên: miễu Rồng (Quỳnh Bảo) – đầu rồng/miếu Thóc (Quỳnh Bảo) – hàm rồng (dưới)

 Cách phà Hiệp chừng 500 về bên trái, cạnh bờ đê sông Luộc là chùa Tông (dân trong vùng quen gọi là chùa Trông), ở thôn Hán Lý, xã Hưng Long, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương thờ thiền sư Không Lộ (thời Lý), vì đây là quê mẹ ông. Đây là ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng trong vùng, với tam quan khá đồ sộ (tuy chùa trong mới được sửa lại bằng beton cốt thép và không đẹp), “đức thánh chùa Tông, đức ông chùa Rào” (chùa Rào thuộc thôn Ngõ Mưa, Vạn Niên, nay thuộc xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, đối diện bên kia sông); hiện có hàng chục cây lưu niệm do lãnh đạo cấp cao trung ương và địa phương trồng. Bên phải, cách phà Hiệp chừng 500 m là quê hương và đền thờ cha con Khúc Thừa Dụ - người đặt nền móng cho độc lập, tự chủ của Việt Nam sau 1000 năm Bắc thuộc. Qua phà Hiệp là khu phố bến Hiệp – quê hương của PTT Hoàng Trung Hải.

 Đình & chùa Lê Xá, Quỳnh Hải – tương truyền nằm trên đất đầu rồng

 Cách đây chừng 60 năm, khu phố Hiệp có chừng 40 người Hoa sinh sống, nhưng là đầu mối buôn bán, xuất khẩu thóc gạo của toàn tỉnh Thái Bình, xuất đi Ninh Giang (Hải Dương), Hải Phòng; nay di tản hết, còn 1-2 người sống lẫn trong làng, cắt thuốc Bắc hoặc làm ruộng. Bên trái chừng 500 là thôn Ngõ Mưa (Vạn Niên), xã Quỳnh Hoàng – quê hương Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ và của những anh hùng trong chiến tranh chống Mỹ (câu nói: “ra ngõ gặp anh hùng” phải chăng xuất phát từ đây, vì một ngõ nhỏ có vài anh hùng). Từ bến Hiệp, đi thẳng theo tỉnh lộ 217 chừng 300 m, bên trái là ngã ba Hàng - khu lăng mộ người Hoa (còn một số mộ lớn trong làng An Hiệp, Sơn Đồng, xã Quỳnh Giao; trong làng cũng có một số bia thời Mạc tại chùa) được một dòng sông cổ uốn quanh, bao bọc.

 Khi người Hoa sinh sống tại đây, đã mua đất này đặt lăng mộ. Hiện nay, dù tản mát đi hết, nhưng 5/5 âm lịch hàng năm, người Hoa đều về đấy cúng tổ tiên bằng vịt sống. Bên phải, đối diện với ngã ba Hàng là thôn Hào Long (xã Quỳnh Giao). Cách đây chừng 100 năm, khi người Pháp cho đắp đường 217 từ bến Hiệp về Quỳnh Côi đi ngã ba Đợi (cắt quốc lộ 10 từ Nga Sơn, Thanh Hóa đi Quảng Ninh), nhiều dân thôn Hào Long phải đi phu phen tạp dịch và vì thế có câu đối (tương truyền tới nay chưa ai đối được): “Gái Hào Long gánh đất đường rống (liên quan tới câu chuyện đàn rồng vượt sông), vì thương chồng nên phải đi phu”. Sông Luộc còn gọi là sông Phú Nông, dài chừng 80 km, bắt nguồn từ ngã ba Hải Triều (chiếu Hới, quê hương Nguyễn Thị Lộ) và phố Hiến chảy giữa Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình và kết thúc ở giao với sông Thái Bình ở khu vực huyện Tiên Lãng, Hải Phòng và đổ ra biển ở cửa Thái Bình gần làng Nam An của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm; đây là chi lưu quan trọng bậc nhất nối giữa hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, tuyến đường thủy quan trọng nối Thăng Long xưa với Hải Đông. Cuối thế kỷ 17, khi lánh Tây Sơn về quê vợ ở làng Hải Triều (Hới), nay thuộc xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, qua sông Luộc, Nguyễn Du có làm bài thơ Độ Phú Nông giang cảm tác:

 “Nông thủy đông lưu khứ

 Thao thao cánh bất hồi

 Thanh sơn thương vãng sự

 Bạch phát phục trùng lai

 Xuân nhật thương thuyền hợp

 Tây phong cổ lũy khai

 Du nhân vô hạn cảm

 Phương thảo biến thiên nhai”

 (Phần Mười năm gió bụi, Thanh Hiên thi tập – chữ Hán) Dịch thơ (bản dịch của Nguyễn Thanh Giang)

 Phú Nông dòng nước tràn trề

 Luôn luôn chảy mạnh xuôi về biển Đông

 Non xanh việc trước đau lòng

 Bạc đầu ta lại long đong chốn này

 Thuyền buôn xuân tới họp đầy

 Lũy xưa bỏ trống gió Tây lạnh lùng

 Khách qua cảm động khôn cùng

Chân trời man mác một vùng cỏ thơm

Số Lượt Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday
mod_vvisit_counterYesterday
mod_vvisit_counterThis week0
mod_vvisit_counterLast week
mod_vvisit_counterThis month0
mod_vvisit_counterLast month
mod_vvisit_counterAll days0

Online Now:
Your IP: 54.82.81.154
,
Today: Tháng 12 13, 2017
Top of Page
Anal